Mẹ Têrêsa: Tiểu sử và chứng từ

posted Jun 5, 2010, 10:47 AM by Admin !   [ updated Jun 5, 2010, 10:49 AM ]

“Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu”

Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. “Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo”. Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: “xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn”.

THỜI THƠ ẤU

Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnès những bài học bác ái đầu tiên.
Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình buôn chải nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo và thiếu thốn đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, tại Letnice.
Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

ƠN GỌI

Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?
Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: “Làm sao con biết chắc?”. Cha trả lời: “Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi”. Và cha nói thêm: “Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình.”
Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rõ ràng là cô sẽ phải đi truyền giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập dòng Đức Mẹ Lorette, một hội dòng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.
Ngày 25 tháng 09, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.
Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Dòng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo dòng, cô chọn tên là Têrêxa, để tưởng nhớ chị thánh Têrêsa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm 1928 cô khởi sự cuộc hành trình đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của cô! Cuộc hành trình này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với cô nhưng phần đông hành khách thì theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.
Đầu năm 1929 họ đến Colombo, rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta. Họ tiếp tục đi đến Darjeeling, dưới chân dãy Hy mã lạp sơn, nơi mà người nữ tu trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêsa vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn cùng vô biên tại nơi này.

NỮ TU VÀ GIÁO VIÊN

Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi nào có thể, chị đều đi giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau phòng học. Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo vì sự nhiệt tình và lòng trìu mến của cô, nên số học sinh lên đến ba trăm em. Ở một khu khác trong thành phố, còn 100 em nữa. Chị nhìn thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm sóc và tình yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật, chị đi thăm viếng gia đình các em.
Ngày 24 tháng 05 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời”. Chị được cử làm hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta, dành cho nữ sinh Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêsa không thể nhắm mắt làm ngơ được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây? Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn bản: hãy chăm sóc người nghèo.
Hội đoàn Legio Mariae cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh, chị Têrêsa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những gì mình thấy và làm. Cha Henry, một linh mục dòng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài gợi ý nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêsa trong nhiều năm. Qua các gợi ý của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người nghèo, nhưng bằng cách nào đây?

‘ƠN GỌI TRONG ƠN GỌI ’

Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại Darjeering. Sau này chị nói: “đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi’. Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy”. Sứ điệp của Người rất rõ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. “Đấy là một mệnh lệnh, một bổn phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết mình phải làm gì, nhưng không biết phải làm thế nào”. Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Dòng gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).
Chi Têrêxa cầu nguyện, trình bày cho vài chị khác, tham khảo ý kiến mẹ bề trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị giải thích cho ngài về ơn gọi của mình, nhưng đức cha không cho phép. Ngài đã trao đổi với các cha dòng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết rõ chị Têrêsa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và chị Têrêsa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa trước khi thực hiện quyết định này, nếu không thì nên gia nhập dòng các Nữ Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị Têrêsa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho mình. Chị muốn sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa trình lên ý định mình, đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hãy xin phép Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.

QUYẾT ĐỊNH

Tháng 08 năm 1948, chị Têrêsa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị chia tay với chị em mình năm 38 tuổi, rời tu phục dòng Lorette để mặc lấy chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rõ ràng là chị chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ nếu chị biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của mình.
Vị bề trên ở Patna, một bác sĩ, đã cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị tỏ ý muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của chị: nếp sống mới đòi hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.
Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêsa đến với các khu ổ chuột và đường phố, thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một cục xà phòng và năm rupi (09 cents). Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên: Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ! Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ sinh. Sau đấy chị mướn được một phòng nhỏ để làm lớp học.
Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc nào chị cũng tìm ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một miếng xà phòng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng Tình Yêu, và - ngược với các thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu thương các em, thực sự yêu thương các em.

MỘT THỜI ĐIỂM CẢM ĐỘNG

Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đình khá giả và là cựu học sinh của Mẹ Têrêsa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện, về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ đợi một thời gian nữa.
Ngày 19 tháng 03 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đã quyết định. Cô là người đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêsa và lấy tên khai sinh của Mẹ là Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 05 cộng đoàn có ba người, tháng 11 là năm người, năm sau đó là bảy người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đã dâng tặng tầng cao nhất của căn nhà mình cho cộng đoàn Mẹ Têrêsa. Đây cũng là năm mà Mẹ Têrêsa lấy quốc tịch Ấn Độ.
Mẹ Têrêsa nhìn cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến việc sáng lập một hội dòng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ý kiến của hai người đã từng giúp Mẹ trước đây: các cha dòng Tên Julien Henry và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây “hiến pháp của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái’ có thể trình lên đức tổng giám mục, và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.
Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10 năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên thành hội dòng Tòa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.

NHỮNG LÃNH VỰC KHÁC

Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập, năm 1963: tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái; năm 1976: Nhánh nữ tu chiêm niệm; năm 1979, các Nam tu sĩ chiêm niệm và năm 1984, hội linh mục Thừa Sai Bác Ái. Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng lại nơi những người có ơn gọi tu trì mà thôi. Mẹ thiết lập hội Những Cộng Tác Viên với Mẹ Têrêsa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện, đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn vì tình yêu. Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái. Để đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêsa khởi xướng phong trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc sủng của Mẹ.
Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ý đến Mẹ và các công trình mà Mẹ đã khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng: giải Padmashri của Ấn Độ, năm 1962; giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971; giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới, năm 1972; và Giải Nobel Hòa Bình, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón nhận tất cả ‘vì vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo’

CHỨNG TỪ CỦA MỘT CUỘC ĐỜI.

Toàn bộ cuộc đời và công trình của Mẹ Têrêsa là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng có một khía cạnh anh dũng khác của vĩ nhận này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ: trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và vì thế càng ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm nội tâm ấy là ‘bóng tối’. Cái ‘đêm đem cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục mãi cho đến cuối đời, khiến Mẹ ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.
Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn tiếp tục điều hành Hội Dòng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của Giáo Hội. Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêsa là 4000 chị hoạt động tại 610 nhà trong 123 quốc gia trên thế giới. Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề trên tổng quyền mới của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài. Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy dỗ các nữ tu con cái mình. Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội dòng Thừa Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.
Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đã đồng thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.
Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước. Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được phong chân phước nhanh nhất.

CHÂN PHƯỚC TÊRÊSA THÀNH CALCUTTA - một người của toàn thể nhân loại, mang dòng màu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và là công dân danh dự của Hoa kỳ, nhung lại xó mình đến nỗi ít ai còn nhớ đến cái tên khai sinh Agnes Gonxha Bojaxhiu - mãi mãi là hình ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và cho một đức ái vượt mọi biên thùy. Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy’ đã biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’, một biểu tượng cho lòng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi tình yêu của mỗi một linh hồn.

Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican và Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái.

VÀI TƯ TƯỞNG CỦA MẸ TÊRÊSA.

NGƯỜI NGHÈO THẬT CAO CẢ
Người nghèo không cần chúng ta thông cảm và thương hại. Người nghèo cần chúng ta đồng cảm và yêu thương. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ.
Trong thời gian khủng khiếp mà hằng triệu người đến tị nạn tại Ấn Độ, chúng tôi kêu gọi trợ giúp và nhiều người tình nguyện đến sống vài tháng với chúng tôi, để yêu thương và phục vụ, bằng tấm lòng trìu mến và bằng sự chăm sóc tận tình. Khi ra về, họ bảo rằng họ đã nhận nhiều hơn là cho.
Tại Calcutta, cách đây một thời gian, mỗi đêm chúng tôi ra đường đem bốn năm người hấp hối về Nhà Vĩnh Biệt của chúng tôi. Có một bà ở trong tình trạng thật bi đát nên tôi muốn tự tay mình chăm sóc. Tôi gởi hết tình yêu thương vào công việc này. Khi tôi đặt bà lên giường, bà nắm lấy tay tôi và môi bà nở một nụ cười tuyệt diệu. Bà chỉ nói có một tiếng: “Cám ơn” rồi bà chết. Bà đã cho tôi nhiều hơn tôi cho bà, rất nhiều. Bà đã tặng tôi tấm lòng biết ơn của mình và tôi thầm nghĩ: Ở hoàn cảnh bà tôi sẽ làm gì nhỉ? Rồi tôi tự trả lời: hẳn là tôi sẽ cố gắng lôi kép sự chú ý về mình; hẳn là tôi sẽ bảo: tôi đói hay tôi lạnh hay tôi sắp chết. Nhưng phần bà, bà thật cao cả, bà thật tuyệt vời qua hành động trao tặng của mình.
Người nghèo thật cao cả.

TỰ NHIÊN
Nếu bạn cầu nguyện bằng lời, thì hãy để cho lời ấy được chìm ngập trong tình yêu xuất phát tự đáy lòng mình. Hãy chắp tay, nhắm mắt và hướng lòng lên với Chúa. Hãy để cho kinh nguyện của bạn trở thành một của lễ tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa. Đừng cầu nguyện lớn tiếng hay quá im lặng. Hãy cầu nguyện đơn sơ. Hãy để cho lòng bạn lên tiếng. Hãy cầu nguyện với Chúa bằng trọn tâm hồn mình.
Lời nói sẽ trỗi dậy từ đáy lòng bạn và bạn sẽ cảm nhận được niềm vui khi cầu nguyện. Thỉnh thoảng dừng lại ở một lời và suy đi nghĩ lại, để cho lời ấy chìm sâu vào lòng bạn.
Hãy giữ lời ấy suốt ngày: lời ấy giữ bạn trong bình an.

TÌNH YÊU
Đừng nghĩ rằng một tình yêu chân chính phải là một điều gì phi thường. Điều cần thiết là yêu thương liên tục. Làm thế nào mà ngọn đèn cháy mãi nếu nó không được nuôi dưỡng bằng một giọt dầu? Khi hết dầu thì không còn ánh sáng và vị hôn phu sẽ nói: Tôi không biết các người.
Các bạn thân mến, những giọt dầu của ngọn đèn các bạn là gì? Đấy là những điều nhỏ nhặt trong đời thường: niềm vui, lòng quảng đại, những việc lành nho nhỏ, đức khiêm nhường và sự nhẫn nại. Một suy nghĩ hướng đến tha nhân. Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động. Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình. Đừng tìm kiếm Chúa Giêsu ở nơi xa xôi, Người không có ở đấy đâu. Người đang ở trong các bạn, hãy chăm sóc ngọn đèn của mình rồi các bạn sẽ nhìn thấy Người.


Ôi lạy Chúa Giê-su,
Chúa là Đấng thông biết mọi sự: sự sống cũng như sự chết,
Chúng con nài xin Chúa: hãy tha thứ mọi tội lỗi
Cho người bạn của chúng con đây đang sắp chia tay với chúng con.
Xin hãy ban cho người này một trái tim đã được thanh luyện tinh tuyền.
Chúa đã quá rõ:
Có biết bao con người,
Có đến hàng chục nghìn con người đang hấp hối,
Mà chúng con đã chăm nom săn sóc.
Và Chúa cũng đã biết: Không một người nào trong số ấy
Phải đau đớn sợ hãi sau khi đã xưng thú các tội lỗi của mình,
Và họ đã nhận được Ơn Tha Thứ.
Xin Chúa cho người bạn của chúng con đây,
Một khi đã giã biệt chúng con,
Họ cũng được ra đi trong bình an.
Và, với một trái tim đã được thanh tẩy,
Chúng con tin chắc rằng người bạn này
Sẽ được vui hưởng hạnh phúc với Chúa trong Nước Trời,
Cho đến muôn đời muôn thuở. A-men.

Trích trong PRIER AVEC MÈRE TERESA, xuất bản năm 1994:

Mother Teresa of Calcutta (August 26, 1910 – September 5, 1997), born Agnesë Gonxhe Bojaxhiu, was an Albanian[2][3] Roman Catholic nun with Indian citizenship[4] who founded the Missionaries of Charity in Kolkata (Calcutta), India in 1950. For over 45 years she ministered to the poor, sick, orphaned, and dying, while guiding the Missionaries of Charity's expansion, first throughout India and then in other countries.

By the 1970s she had become internationally famed as a humanitarian and advocate for the poor and helpless, due in part to a documentary, and book, Something Beautiful for God by Malcolm Muggeridge. She won the Nobel Peace Prize in 1979 and India's highest civilian honor, the Bharat Ratna, in 1980 for her humanitarian work. Mother Teresa's Missionaries of Charity continued to expand, and at the time of her death it was operating 610 missions in 123 countries, including hospices and homes for people with HIV/AIDS, leprosy and tuberculosis, soup kitchens, children's and family counseling programs, orphanages, and schools.

She has been praised by many individuals, governments and organizations; however, she has also faced a diverse range of criticism. These include objections by various individuals, including Christopher Hitchens, Michael Parenti, Aroup Chatterjee, Vishva Hindu Parishad, against the proselytizing focus of her work; this included baptisms of the dying, a strong anti-abortion stance, and a belief in the spiritual goodness of poverty. Several medical journals also criticised the standard of medical care in her hospices, and concerns were raised about the opaque nature in which donated money was spent.

Following her death she was beatified by Pope John Paul II and given the title Blessed Teresa of Calcutta.[5][6]

Ngày 5/9/1997, Mẹ Têrêsa đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 87 tuổi. Suốt một cuộc đời hy sinh phục vụ cho những người nghèo đói khổ cực, Mẹ Têrêsa, một tôi tớ trung thành của Ðức Kitô, luôn được người người trên thế giới chúc tụng, rất xứng đáng cho giáo dân Việt Nam chúng ta noi gương và ghi nhớ. Sau đây chúng tôi xin sơ lược một vài chi tiết về tiểu sử của Mẹ Têrêsa:

Mẹ Têrêsa sinh ngày 26/8/1910 tại Skopje, Macedonia, Yugoslavia (Nam Tư); Mẹ có tên thật là Agnes Gonxha Bojaxhiu; con út trong một gia đình có ba người con; cha làm nghề xây dựng. Ngày 27/8/1910 lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Mẹ Têrêsa thường tâm sự, ngày Rửa Tội chính là ngày sinh nhật chính thức trong cuộc đời của Mẹ.

Ðủ 18 tuổi, Mẹ Têrêsa gia nhập Dòng Nữ Vương Ðức Bà Loreto ở Ái Nhỉ Lan (Ireland). Tu học tại nhà mẹ của Dòng Loreto ở Dublin. Mẹ Têrêsa chọn cho mình tên gọi là Sơ Têrêsa để luôn tưởng niệm Thánh Nữ Têrêsa Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Têrêsa bắt đầu một cuộc hành trình dài đến Ấn Ðộ, rồi tiếp tục đến Darjeeling, khu vực gần Dãy Núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan Mountains), nơi Sơ Têrêsa tiếp tục tu học cho đến ngày khấn. Không lâu sau đó, vào ngày 6/1/1929 Sơ Têrêsa đến Calcutta, thủ đô Bengal, Ấn Ðộ, để dạy học tại một trường Nữ Trung Học. Trong thời gian tại Calcutta, điều đánh động Sơ Têrêsa nhiều nhất đó là tận mắt trông thấy các bệnh nhân ốm liệt, nghèo đói và hấp hối đầy trên các đường phố.

Năm 1946, sau khi đã chứng kiến những nạn nhân khốn khổ đầy thương tích và chết chóc, các trẻ em bơ vơ trên đường phố, kết quả của những biến cố nổi loạn giữa Hồi Giáo và Ấn Giáo, ngày 10/9/1946, trên một chuyến xe lửa đi về Darjeeling để điều trị bệnh lao mới phát, Sơ Têrêsa nhận ra được tiếng mời gọi của Chúa thúc dục Sơ phục vụ cho những người nghèo đói khốn khổ. Mẹ Têresa kể lại:

"Tôi bắt đầu nhận ra tiếng gọi của Chúa kêu mời tôi săn sóc cho những người bệnh tật và nghèo đói, những kẻ rách rưới và lang thang - thúc dục tôi ban phát tình yêu của Chúa cho các người khốn khổ và bơ vơ. Sự kiện nầy đã mở cửa cho bước đầu phục vụ Bác Ái của đời tôi."

Mẹ Têrêsa không chần chờ, đắn đo, và bắt đầu xin phép rời Hội Dòng Loreto để thiết lập một nhà Dòng mới. Ðược Ðức Giáo Hoàng Piô XII cho phép. Và năm 1948, Mẹ Têrêsa, với chiếc áo dòng củ kỷ và một vài đồng lẻ trong túi đã đến sống giữa những người Ấn Ðộ như một người Ấn Ðộ. Ðương nhiên Mẹ Têrêsa cũng chọn màu áo xanh xám có những viền xanh (biểu hiệu cho Thánh Ý của Thiên Chúa) giống như áo Hội Dòng của Mẹ.

Năm 1952 Mẹ Têrêsa cùng với Hội Dòng Nữ Tu Bác Ái của Mẹ đã bắt tay vào việc. Hội Dòng của Mẹ đã được bản quyền Calcutta cho phép xử dụng ngôi đền Kali đã bị bỏ hoang của Ấn Giáo. Mẹ Têrêsa đã biến nó trở thành Hội Quán Kalighat cho những người nghèo đói đau khổ. Mẹ đã cùng với các cộng tác viên tìm kiếm những người bệnh tật, hấp hối thất thểu ngoài đường phố, đem về săn sóc cho đến ngày họ qua đời. Ðối với những người bệnh tật, Mẹ đã tìm kiếm thuốc thang săn sóc cho họ, đối với những người khổ đau, Mẹ là một nguồn ủi an đem bình an và tình yêu của Chúa đến với họ...

Năm 1962, Mẹ được giải thưởng đầu tiên về công việc Nhân Ðạo của Mẹ. Năm 1979, được giải thưởng Nobel Hòa Bình. Năm 1985, được trao Huy Chương Tự Do, huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Mẹ đã dùng tất cả những số tiền giải thưởng này để thiết lập thêm nhiều trung tâm khác.

Mẹ Têrêsa đã được cả thế giới kính phục và biết ơn vì những tấm lòng hy sinh tràn đầy yêu thương phục vụ. Tinh thần của Mẹ Têrêsa đã in sâu mãi trong lòng mỗi người dân trên thế giới.

 

 

 

Lạy Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể,

là Bánh Hằng Sống,

là Hy Lễ dâng lên trong thánh lễ vì tội lỗi thế gian và tội lỗi tôi.

Xin ban cho con ơn biết noi theo gương Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta

- ơn khôn ngoan để nhận biết và can đảm tuyên xưng Chúa Giêsu là Ngôi Lời
biết rao giảng, loan truyền Chúa là Sự Thật -
biết đi theo con đưòng của Chúa vì chỉ có Chúa là Đường
biết thắp lên Ánh Sáng tin mừng vì Chúa là Ánh sáng
biết chết cho mình và sống cho Chúa vì Chúa là Sự Sống
biết yêu Chúa và yêu thương tha nhân vì Chúa là Tình Yêu
biết chia xẻ niềm vui với mọi người vì Chúa là Niềm Vui
biết tận hiến đời con cho Chúa vì Chúa Giêsu là Của Lễ
biết trở nên khí cụ trao ban bình an của Chúa vì Chúa là Bình An
biết khao khát, năng rước Thánh Thẻ vì Chúa là Bánh Hằng Sống
-Xin cho chúng con biết đồng cảm và yêu thương những anh em nghèo khó.
biết cho Chúa ăn trong những Người Đang Đói
biết cho Chúa uống trong những Người Đang khát
biết cho Chúa mặc trong những Người Đang trần truồng, rách nát
biết đón tiếpp Chúa trong những Người không nhà
biết săn sóc chữa lành Chúa trong những Người Bệnh Hoạn
biết yêu thương Chúa trong những người cô đơn
biết chăm sóc Chúa trong những Người Phung Hủi
biết hy sinh chữa chạy Chúa trong người bị bệnh Aid
biết bao dung và nâng đỡ Chúa trong những gái chửa hoang
biết ân cần hảo tâm với Chúa trong Người Ăn Xin
biết lắng nghe nhu cầu của Chúa trong Người Nghiện Rượu
biết bảo vệ Chúa trong Người bị bệnh Tâm Thần
biết che chở Chúa trong Người Bé Mọn
biết dẫn dắt Chúa trong Người Đui Mù
biết nói thay Chúa trong Người Câm
biết đồng hành với Chúa trong Người Tàn Tật
biết cảm thông với Chúa trong Người nghiện Ma Túy
biết viếng thăm Chúa trong Người Mãi Dâm
biết phục vụ Chúa trong Người Già Nua
- Lạy Chúa xin cho con hiểu rằng tình yêu chân chính không phải là làm những việc phi thường nhưng là chu toàn những việc lành nho nhỏ trong đời sống thường ngày với một tình yêu cao cả, với niềm vui, lòng quảng đại, khiêm nhường và nhẫn nại.
Con cầu xin Chúa Vì Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là bạn tình, là Sự Sống,là Tình yêu duy nhất, là Tất Cả, là Mọi Sự của con
Con nguyện yêu mến Người hết lòng, hết tâm trí con. Con hiến dâng Người mọi sự,
kể cả tội lỗi mình vi Người đã yêu thương con, chịu đóng đinh chết vì con để kết hôn con với Người trong trìu mến và yêu thương bây giờ và trọn đời.
19-Oct-2003 -- Ngày phong thánh Mẹ Teresa

Một Giáo dân nghèo hèn

Jesus is the Word made Flesh.

Jesus is the Bread of Life.

Jesus is the Victim offered for our sins on the Cross.

Jesus is the Sacrifice offered at the Holy Mass

For the sins of the world and mine.

Jesus is the Word – to be spoken.

Jesus is the Truth – to be told.

Jesus is the Way – to be walked.

Jesus is the Light – to be lit.

Jesus is the Life – to be lived.

Jesus is the Love – to be loved.

Jesus is the Joy – to be shared.

Jesus is the Sacrifice – to be offered.

Jesus is the Peace – to be given.

Jesus is the Bread of Life – to be eaten.

Jesus is the Hungry – to be fed.

Jesus is the Thirsty – to be satiated.

Jesus is the Naked – to be clothed.

Jesus is the Homeless – to be taken in.

Jesus is the Sick – to be healed.

Jesus is the Lonely – to be loved.

Jesus is the Unwanted – to be wanted.

Jesus is the Leper – to wash his wounds.

Jesus is the Beggar – to give him a smile.

Jesus is the Drunkard – to listen to him.

Jesus is the Retarded – to protect him.

Jesus is the Little One – to embrace him.

Jesus is the Blind – to lead him.

Jesus is the Dumb – to speak for him.

Jesus is the Crippled – to walk with him.

Jesus is the Drug addict – to befriend him.

Jesus is the Prostitute – to remove from danger and befriend.

Jesus is the Prisoner – to be visited.

Jesus is the Old – to be served.

 

To me –

Jesus is my God.

Jesus is my Spouse.

Jesus is my Life.

Jesus is my only Love.

Jesus is my All in All.

Jesus is my Everything.

 

Jesus, I love with my whole heart, with my whole being.  I have given Him all, even my sings, and he has espoused me to Himself in tenderness and love.  Now and for life I am the spouse of my Crucified Spouse. Amen.

 

Prayer taken from "Jesus Is My All in All: Praying with the 'Saint of Calcutta'"

 

 

Comments